Mittwoch, 21. Oktober 2009

Sách Sử Việt Nam

Do Lê Tắc soạn thảo vào khoảng thế kỷ 14, Ủy ban phiên dịch sử liệu Việt Nam thuộc Viện Đại Học Huế dịch sang chữ Quốc Ngữ vào năm 1960. Nhóm bạn Lê Bắc, Công Đệ và Doãn Vượng chuyển sang ấn bản điện tử năm 2000.

Lê Tắc, hay Lê Trắc (
chữ Hán: 黎崱), tự Cảnh Cao (景高), hiệu Đông Sơn (東山), là một sử gia người Việt, đã sang Trung Quốc sống vào thời nhà Nguyên. Ông nguyên là người huyện Đông Sơn, Thanh Hóa, Việt Nam.
Đến nay không có nhiều tài liệu và thông tin đầy đủ về cuộc đời Lê Tắc. Theo sách Người "có vấn đề" trong sử nước ta của Vũ Ngọc Khánh thì tiểu sử Lê Tắc có thể tóm tắt như sau:
Lê Tắc là hậu duệ của thứ sử Giao Châu thời Đông Tấn Nguyễn Phu, sinh năm nào không rõ (ước khoảng thập niên 1260). Ông được cậu là Lê Bổng nuôi dưỡng nên đổi sang họ Lê. Từ nhỏ ông đã tỏ ra là người thông minh dĩnh ngộ, nổi tiếng học giỏi. Lớn lên, ông được vào cung hầu hạ
Trần Thái Tông, làm chức thị lang.
Sau đó, Lê Tắc chuyển sang phục vụ dưới trướng Chương Hiến hầu
Trần Kiện, con thứ Tĩnh Quốc đại vương Trần Quốc Khang. Khi quân Nguyên Mông sang xâm lăng Đại Việt lần thứ hai (1285), ông đã cùng chủ đầu hàng quân Nguyên.

Trần Kiện theo
Trần Ích Tắc phục vụ dưới quyền Thoát Hoan. Đầu mùa hè năm 1285, quân nhà Trần phản công đánh chiếm lại Thăng Long. Quân Nguyên bỏ chạy về nước. Trần Ích Tắc và Trần Kiện chạy theo Thoát Hoan lên biên giới. Sợ bị quân Trần truy kích bằng tên độc, Thoát Hoan phải chui vào ống đồng cho quân lính khiêng đi cho an toàn.
Quân Trần truy đuổi quân Nguyên đến biên giới, Trần Kiện bị tướng người Tày ở châu Ma Lục (Lạng Sơn) là Nguyễn Thế Lộc bắn tên độc, chết tại trận. Khi đó Lê Tắc ôm xác chủ đi chôn cất ở biên giới rồi chạy theo Trần Ích Tắc cùng quân Nguyên về
Trung Quốc. Trong cảnh quân Nguyên hỗn loạn bỏ chạy, Lê Tắc đã chỉ đường giúp nhiều tướng sĩ nhà Nguyên chạy thoát về bên kia biên giới.

Cuối năm 1287, quân Nguyên sang đánh
Đại Việt lần thứ ba, Lê Tắc cũng theo sang. Đạo quân chủ lực của Thoát Hoan đi đường châu Tư Minh vượt qua biên giới, tiến vào Thăng Long. Tháng chạp năm đó, Lê Tắc cùng Lê An (cũng là tướng người Việt) mang 5000 quân hộ tống con Trần Ích Tắc là Trần Dục mới 9 tuổi kéo theo sau quân Nguyên, đúng đường Thoát Hoan đã đi.

Tuy không gặp phải sự ngăn cản của quân chủ lực nhà Trần nhưng cánh quân Lê Tắc lại bị sự phục kích của tướng người Tày là Nguyễn Thế Lộc tại cửa ải Nội Bàng. Quân Nguyên bị tổn hại nhưng vẫn tiến qua được biên giới. Nguyễn Thế Lộc bủa vây, Lê Tắc dựa vào sông Lục Nam bày trận chống lại. Thế Lộc để chừa lại hướng bắc, vây 2 mặt kẹp lại. Lê Tắc và Lê An không chống nổi, phải theo hướng bắc để ngỏ chạy trở lại biên giới. Thế Lộc tung quân đuổi theo. Lê An bế Trần Dục đi con ngựa gầy chạy chậm, bị quân Trần đuổi sát. Lê Tắc vội quay ngựa lại, nhường ngựa tốt mình đang cưỡi cho An ôm Dục chạy trước. Cuối cùng cánh quân Nguyên này chỉ còn không đầy 100 người, chạy thoát về châu Tư Minh đúng ngày Tết nguyên đán năm Mậu tý (1288).

Nhà Nguyên cho Lê Tắc làm quan thị lang, sau đó về cư trú tại Hán Dương (nay là các quận
Hán DươngThái Điện, địa cấp thị Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc). Tại đay ông kết giao với nhiều sĩ đại phu Trung Hoa, hay ngao du sơn thủy, toàn tâm nghiên cứu điển tịch. Ông soạn sách An Nam chí lược khi ở bên Trung Quốc. Sau đó Lê Tắc mất năm nào không rõ (ước khoảng thập niên 1340).

Tác phẩm chủ yếu
An Nam chí lược cuốn 13, lưu trữ tại Văn Uyên Các, Trung Hoa
An Nam Chí Lược: Sách sử về nước Đại Việt, tác giả đứng trên quan điểm của người Nguyên để soạn.
Vì lý do đó, dù An Nam chí lược đã được một số sách sử gia
Việt Nam thời Hậu Lê như Lê Quý Đôn và các sử gia nhà Nguyễn nhắc tới trong danh mục các sách sử cũ đời trước; nhưng khi dùng một số thông tin làm tài liệu tham khảo để soạn sử thì được dùng dè dặt và không có bình luận gì thêm.
Điều này bị nhiều học giả trong
thế kỷ 20 phê phán gay gắt, nhất là Trần Thanh Mại, cho rằng đó là "một quyển sử nhục nhã" của kẻ bán nước. Nhưng sau đó, cũng có những ý kiến khác, cho rằng Lê Tắc làm quan cho nhà Nguyên nhưng vẫn có lòng tưởng nhớ cố hương, và cách soạn sách theo quan điểm nhà Nguyên là việc bắt buộc phải uốn theo triều đại mà ông phục vụ.

üüüüüüüüüüüüüüüüüüüüüüüüü

***Thiền Uyển Tập Anh
Soạn thảo vào đời nhà Trần, khoảng thế kỷ 14. Sách viết về các thiền sư đời Lý, Trần, v.v... tuy nhiên lại cho biết rất nhiều dữ kiện lịch sử vào các thời kỳ đó. Lê Mạnh Thát dịch sang chữ Quốc Ngữ vào năm 1976. Lê Bắc chuyển sang ấn bản điện tử năm 2001.

üüüüüüüüüüüüüüüüüüüüüüüüü

***Đại Việt Sử Lược
Do một tác giả khuyết danh soạn thảo vào khoảng thế kỷ 14. Nguyễn Gia Tường dịch sang chữ Quốc Ngữ vào năm 1972. Nhóm bạn Lê Bắc, Công Đệ chuyển sang ấn bản điện tử năm 2001.

üüüüüüüüüüüüüüüüüüüüüüüüü

***Lam Sơn Thực Lục
Do Nguyễn Trãi soạn thảo, Lê Lợi đề tựa vào thế kỷ 15. Mạc Bảo Thần dịch sang chữ Quốc Ngữ vào năm 1944. Nhóm bạn Lê Bắc, Công Đệ, Tuyết Mai và Doãn Vượng chuyển sang ấn bản điện tử năm 2001.

Nguyễn Trãi (
chữ Hán: 阮廌), hiệu là Ức Trai (抑齋), 13801442, là đại thần nhà Hậu Lê, một nhà văn chữ Nôm. Ông được xem là một anh hùng dân tộc của Việt Nam, một danh nhân văn hóa thế giới.
Nguyễn Trãi (1380 - 1442). Quê gốc làng Chi Ngại, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương, sinh ra ở Thăng Long trong dinh ông ngoại là quan Tư đồ Trần Nguyên Đán, về sau dời về sống ở làng Ngọc Ổi, xã Nhị Khê, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây. Ông là con trai của
Nguyễn Phi Khanh (trước đây có tên là Nguyễn Ứng Long), vốn là học trò nghèo thi đỗ thái học sinh và bà Trần Thị Thái - con quan Tư đồ Trần Nguyên Đán, dòng dõi quý tộc nhà Trần.
Nguyễn Trãi sống trong thời đại đầy biến động dữ dội.
Nhà Trần suy vong, Hồ Quý Ly lên thay, lập ra nhà Hồ, đổi tên nước là Đại Ngu.
Năm 1400, Nguyễn Trãi thi đỗ Thái học sinh. Cả Nguyễn Phi Khanh và làm quan cho nhà Hồ. Nhưng chẳng bao lâu sau (1407) quân Minh sang đánh nước Đại Ngu. Nhà Hồ thua trận, cha con Hồ Quý Ly cùng các triều thần bị bắt sang Trung Quốc, trong đó có
Nguyễn Phi Khanh.
Tương truyền lúc ấy, Nguyễn Trãi muốn giữ tròn đạo hiếu, đã cùng em trai là Nguyễn Phi Hùng theo cha sang
Trung Quốc. Nhưng đến ải Nam Quan, nghe lời cha dặn phải tìm cách rửa nhục cho đất nước, ông đã trở về và bị quân Minh bắt giữ ở Đông Quan.

Nguyễn Trãi bỏ trốn tìm theo
Lê Lợi. Các tài liệu nói khác nhau về thời điểm Nguyễn Trãi tham gia khởi nghĩa. Có tài liệu nói ông tham gia từ đầu, có tài liệu nói đến năm 1420 hoặc 1423 ông mới theo Lê Lợi.
Theo lệnh của Lê Lợi, Nguyễn Trãi thảo bài
Bình Ngô đại cáo để bá cáo cho thiên hạ biết về việc đánh giặc Minh, được coi là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của Việt Nam (sau bài thơ Nam quốc sơn hà).
Tháng 7 năm 1442, vua
Lê Thái Tông về qua nhà Nguyễn Trãi tại Côn Sơn (Chí Linh, Hải Dương ngày nay), vợ Nguyễn Trãi là bà Nguyễn Thị Lộ theo hầu vua. Trên đường về kinh Vua đột ngột qua đời tại vườn hoa Lệ Chi Viên nay thuộc Gia Bình, Bắc Ninh. Nguyễn Trãi bị triều đình do hoàng hậu Nguyễn Thị Anh cầm đầu khép tội giết vua và bị giết cả 3 họ (tru di tam tộc) ngày 16 tháng 8 năm 1442. "Tru di tam tộc" là giết người trong họ của người bị tội, họ bên vợ và họ bên mẹ của người đó. Theo gia phả họ Nguyễn, ngoài những người họ Nguyễn cùng họ với ông, còn có những người họ Trần cùng họ với bà Trần Thị Thái mẹ ông, người trong họ bà Nhữ thị vợ thứ của Nguyễn Phi Khanh, những người trong họ của các bà vợ Nguyễn Trãi (kể cả vợ lẽ), tất cả đều bị xử tử.
Thái tử Bang Cơ mới 1 tuổi, con trai Nguyễn Thị Anh được lập làm vua, tức là
Lê Nhân Tông

Năm
1464, Lê Thánh Tông xuống chiếu giải oan cho Nguyễn Trãi. Con cháu ông được tìm lại và bổ dụng. Người con út sinh ra sau khi ông qua đời là Nguyễn Anh Vũ được Lê Thánh Tông phong cho chức Đồng Tri Phủ huyện Tĩnh Gia (Thanh Hóa), cấp cho 100 mẫu ruộng gọi là "Miễn hoàn điền" (ruộng không phải trả lại) con cháu đời đời được hưởng. Nguyễn Anh Vũ xây dựng mộ chí của Nguyễn Trãi tại xứ đồng Tai Hà, làng Dự Quần, lấy sọ dừa, cành dâu táng làm cốt; lấy ngày mất của Nguyễn Trãi - 16 tháng 8 là ngày giỗ họ.

üüüüüüüüüüüüüüüüüüüüüüüüü
.
Do nhiều sử gia nhà Trần và nhà Lê soạn thảo ra. Năm 1993, nhà XBKHXH ấn hành bản chữ Quốc Ngữ, dịch từ bản in năm Chính Hòa thứ 18 (1697). Nhóm bạn Lê Bắc, Công Đệ, Ngọc Thủy, Tuyết Mai, Hồng Ty và Nguyễn Quang Trung chuyển sang ấn bản điện tử năm 1999.

üüüüüüüüüüüüüüüüüüüüüüüü
.
Do Lê Quý Đôn soạn thảo vào năm 1759. Lê Mạnh Liêu dịch sang chữ Quốc Ngữ vào năm 1973. Nhóm bạn Lê Bắc, Công Đệ chuyển sang ấn bản điện tử năm 2001.
Lê Quý Đôn (
chữ Hán: 黎貴惇), (5 tháng 7 năm 1726 - 14 tháng 4 năm 1784) tên thật Lê Danh Phương là quan của nhà Hậu Lê đồng thời có thể coi là một nhà khoa học trong nhiều lĩnh vực. Ông sinh ngày 5 tháng 7 năm Bính Ngọ, niên hiệu Bảo Thái (Lê Dụ Tông) thứ 7, quê tại làng Diên Hà, trấn Sơn Nam Hạ, nay là thôn Phú Hiếu, xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình và mất ngày 14 tháng 4 năm Giáp Thìn niên hiệu Cảnh Hưng thứ 45.

Lê Quý Đôn là con trai cả của ông Lê Trọng Thứ. Thân sinh của Lê Quý Đôn đậu tiến sĩ năm Bảo Thái thứ 2 (1721) và làm quan đến chức Hình bộ Thượng thư, được phong tước hầu.

Thuở nhỏ, ông có tên là Danh Phương, đến năm 1743 sau khi đỗ giải nguyên trường Sơn-Nam thì đổi thành Quý Đôn, tự Doãn Hậu, hiệu Quế Đường.
Đại Việt thông sử còn gọi là Lê triều thông sử (gồm 30 quyển), là bộ sử được viết theo thể ký truyện, chép sự việc theo từng loại, từng điều một cách hệ thống, bắt đầu từ Lê Thái Tổ đến Cung Hoàng, bao quát một thời gian hơn 100 năm của triều Lê, trong đó chứa đựng nhiều tài liệu mới mà các bộ sử khác không có, đặc biệt là về cuộc kháng chiến chống Minh.

üüüüüüüüüüüüüüüüüüüüüüüüü
.
Do Ngô Thời Sỹ soạn thảo vào năm 1775. Hội Việt Nam Nghiên Cứu Liên Lạc Văn Hóa Á Châu dịch sang chữ Quốc Ngữ vào năm 1960. Nhóm bạn Lê Bắc, Doãn Vượng, Công Đệ chuyển sang ấn bản điện tử năm 2001.

Ngô Thì Sĩ sinh ngày 20 tháng 9 năm
Bính Ngọ (15 tháng 10 năm 1726) tại làng Tả Thanh Oai (làng Tó), huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam (sau thuộc tỉnh Hà Đông, và nay thuộc huyện Thanh Trì Hà Nội).
Ông sinh ra trong một dòng họ lớn
ở làng, có nhiều người nổi tiếng hay chữ...
Ông nội ông là Ngô Trân, hiệu Đan Nhạc, là một người nổi tiếng về sức học uyên bác và tài văn chương, được người đương thời liệt là một trong "bảy con hổ của kinh thành
Thăng Long" (Trường An thất hổ).
Ông là con trưởng Ngô Thì Ức, cũng nổi tiếng hay chữ. Năm 14 tuổi, ông Ức đỗ thứ hai kỳ
thi Hương nhưng sau đó hỏng liền hai khoa thi Hội, nên không để chí vào khoa cử nữa. Khi Ngô Thì Sĩ lên 10 tuổi, thì ông Ức mất.

Từ 7 đến 11 tuổi, Ngô Thì Sĩ được ông nội rèn dạy. Sau đó, ông được cho ra
Thăng Long theo học các bậc danh nho như Nghiêm Bá Đĩnh, Nhữ Đình Toản. Năm Quý Hợi (1743), Ngô Thì Sĩ thi đỗ Hương tiến (Cử nhân), nhưng bị hỏng khoa thi Hội ngay sau đó.
Năm 1752, Ngô Thì Sĩ lại đi thi Hội, nhưng bị khảo quan Trần Tố đánh hỏng (vì “nhầm”)
. Chúa Trịnh Doanh rất tiếc, truất chức của Trần Tố và trao cho Ngô Thì Sĩ chức Thiêm tri Công phiên thẩm ứng vụ (trước đó ông giữ một chức nhỏ trong Binh tào).
Năm 1756 nhân đỗ đầu một kỳ thi tuyển người, Ngô Thì Sĩ trở thành một thành viên trong Văn ban của phủ
chúa Trịnh, được giao trách nhiệm soạn thảo giấy tờ, và làm Tùy giảng cho con chúa là Thế tử Trịnh Sâm.
Năm 1761, ông được sai làm “bạn tiếp” tiếp sứ
nhà Thanh sang sắc phong và điếu tang Lê Ý Tông.
Năm 1763, ông được cử làm Cấp sự trung công khoa.
Năm 1764, ông làm Giám sát ngự sử đạo
Sơn Tây, rồi Đốc đồng Thái Nguyên (1765).
Năm
Bính Tuất (1766), đời Cảnh Hưng, ông thi đỗ Hoàng giáp, năm sau (1767), được thăng Đông các hiệu thư rồi đổi làm Hiến sát sứ Thanh Hoa (tức Thanh Hóa). Khi ở đây, ông khai thác núi Bàn A dựng chòi xem sóng biển và lập hội Quan lan sào, tự mình làm hội trưởng.
Năm 1769, ông được về triều; năm sau (1770), làm Tham chính
Nghệ An.
Năm 1771, ông coi việc chấm thi ở trường thi Nghệ An, bị Nguyễn Văn Chu, người ở Hà Tĩnh kiện vì ăn của đút của học trò, bị án “hoàn dân thụ dịch” (nghĩa là trả về làm dân chịu sai dịch) vào năm 1772
.
Năm 1774, chúa Trịnh Sâm đi tuần phương Nam, biết ông bị oan, mới có ý cất dùng. Năm 1775, cho triệu ông vào kinh giữ chức Hiệu lý Viện Hàn lâm kiêm Hiệu chính quốc sử, sau đó thăng Thiêm đô ngự sử.
Năm 1777, ông được bổ làm Đốc trấn Lạng Sơn. Trong thời gian ở đây, sau khi ổn định được tình hình địa phương, giúp dân an cư, ông đặt doanh Lộc Mã, dựng đình Kinh lược, sửa sang động Song Tiên, khai thác
động Nhị Thanh làm cho nó trở thành một thắng tích.
Cuối năm Canh Tý (
1780), ông mất ở nơi đó, lúc 54 tuổi.
Ngô Thì Sĩ là cha của các danh sĩ:
Ngô Thì Nhậm, Ngô Thì Chí, Ngô Thì Trí, Ngô Thì Hương và là cha vợ của Phan Huy Ích.

üüüüüüüüüüüüüüüüüüüüüüüüü
Do Quốc Sử Quán Triều Nguyễn soạn thảo khoảng năm 1856-1881. Viện Sử học dịch sang chữ Quốc Ngữ vào năm 1960. Nhóm bạn Lê Bắc, Công Đệ, Ngọc Thủy, Tuyết Mai, Thanh Quyên chuyển sang ấn bản điện tử năm 2001.

üüüüüüüüüüüüüüüüüüüüüüüüü


***Quốc Triều Chánh Biên Toát Yếu
Do Quốc Sử Quán Triều Nguyễn soạn thảo vào khoảng đầu thế kỷ 20. Nhóm nghiên cứu sử địa dịch sang chữ Quốc Ngữ vào năm 1972. Nhóm bạn Lê Bắc, Doãn Vượng, Công Đệ chuyển sang ấn bản điện tử năm 2001.
.
üüüüüüüüüüüüüüüüüüüüüüüüü


***Việt Nam Sử Lược
Do học giả Trần Trọng Kim soạn thảo vào năm 1919. Trung tâm học liệu in lần thứ nhất vào năm 1971, nhóm Sách Việt chuyển sang ấn bản điện tử vào năm 1994.

Trần Trọng Kim (
chữ Hán: 陳仲金; 18831953) là một học giả danh tiếng, thủ tướng của Đế quốc Việt Nam (1945) và đầu tiên của Việt Nam, tác giả của Việt Nam Sử Lược.
Việt Nam sử lược (1919),
Trần Trọng Kim, nhà giáo dục, nhà
biên khảo văn học và sử học Việt Nam, bút hiệu Lệ thần, sinh năm 1883 (Quý Mùi) tại làng Kiều Linh, xã Đan Phố, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.
Xuất thân trong một gia đình Nho giáo, ông học
chữ Hán từ nhỏ. Năm 1897, ông học Trường Pháp-Việt Nam Định, học chữ Pháp.

Năm 1900, ông thi đỗ vào Trường thông ngôn và đến 1903 thì tốt nghiệp. Năm 1904, ông làm Thông sự ở Ninh Bình.
Năm
1905, ông qua Pháp học trường Thương mại ở Lyon, sau được học bổng vào trường Thuộc địa Pháp.
Năm
1909, ông vào học trường Sư phạm Melun và tốt nghiệp ngày 31 tháng 7 năm 1911 rồi về nước. Ông lần lượt dạy Trường trung học Bảo hộ (Trường Bưởi), Trường Hậu bổ và Trường nam Sư phạm.

Ông giữ nhiều chức vụ trong ngành giáo dục thời Pháp thuộc như: Thanh tra Tiểu học (1921), Trưởng ban Soạn thảo Sách Giáo khoa Tiểu học (1924), dạy Trường Sư phạm thực hành 1931, giám đốc các trường nam tiểu học tại Hà Nội (1939). Trần Trọng Kim còn là Phó trưởng ban Ban Văn học của Hội Khai trí tiến đức và Nghị viên Hội đồng Dân biểu Bắc Kỳ. Một năm sau khi ông về hưu (1943), Nhật Bản kéo vào Đông Dương và bí mật đưa ông cùng Dương Bá Trạc ra nước ngoài. 1945, ông được đưa về nước. Từ thập niên 1910 đến thập niên 1940, ông cũng viết nhiều sách về sư phạmlịch sử.
Ngày
9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, độc chiếm thuộc địa Đông Dương. Để tranh thủ sự ủng hộ của người Việt, Nhật tuyên bố trao trả độc lập cho Việt Nam.
Ngày
11 tháng 3 năm 1945, triều đình Huế tuyên bố hủy bỏ Hòa ước Patenôtre ký với Pháp năm 1884, khôi phục chủ quyền Việt Nam.

Trần Trọng Kim được giao thành lập nội các vào ngày 17 tháng 4 năm 1945. Đây là chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam độc lập và Trần Trọng Kim trở thành Thủ tướng đầu tiên của Việt Nam.
Tháng 6 năm 1945, chính phủ Trần Trọng Kim đặt quốc hiệu là
Đế quốc Việt Nam; đặt quốc thiều là bài "Đăng đàn cung"; quốc kỳ có "nền vàng hình chữ nhật, giữa có hình quẻ Ly màu đỏ thẫm".

üüüüüüüüüüüüüüüüüüüüüüüüü

***Việt Sử Toàn Thư
Do sử gia Phạm Văn Sơn soạn thảo vào năm 1960, hội chuyên gia Việt Nam chuyển sang ấn bản điện tử vào năm 1996.

Phạm Văn Sơn (15/8/1915 - 6/12/1978) là một
sử gia Việt Nam và là sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng hòa.
Trong vai trò người viết sử, ông cộng tác với
Tập san Sử Địa (do một nhóm giáo viên và sinh viên trường Đại học Sư phạm Sài Gòn sáng lập) và viết rất nhiều bài nghiên cứu, như các bài "Thái độ và hành động của nhân sĩ Việt Nam trong khoảng đầu thế kỷ XX", "Để so sánh các anh hùng trước Nguyễn Huệ với Nguyễn Huệ",... Ông cũng biên khảo rất nhiều sách sử, trong đó có bộ sách sử công phu nhất của ông là Việt sử tân biên, gồm 7 quyển, biên soạn và phát hành từng quyển từ năm 1956 đến năm 1972.
Khi là sĩ quan Quân lực Việt nam Cộng hòa, ông từng là Chỉ huy trưởng trường Quân báo và Chiến tranh tâm lý Cây Mai. Chức vụ cuối cùng năm 1975 là
Đại tá, trưởng Khối Quân Sử, Phòng 5 (Phòng Nghiên Cứu) bộ Tổng Tham Mưu.
Sau
biến cố 1975, ông bị bắt đi học tập cải tạo. Năm 1978, ông qua đời vì bệnh tật tại trại cải tạo Tân Lập, huyện Sông Thao, tỉnh Vĩnh Phú .

Keine Kommentare:

Kommentar veröffentlichen